Cần cải cách đột phá trong chính sách quản lý môi trường không khí

06/05/2018 04:15:57


CẦN CẢI CÁCH ĐỘT PHÁ TRONG CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ

 

Ô nhiễm không khí (ONKK) tại Việt Nam đang có xu hướng gia tăng tại các đô thị lớn và khu công nghiệp. Tuy nhiên, chính sách pháp luật kiểm soát ONKK hiện còn nhiều hạn chế và thiếu đồng bộ. Bài viết dưới đây sẽ phân tích một số khía cạnh còn hạn chế trong chính sách và đưa ra các giải pháp khuyến nghị.

QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ THIẾU TOÀN DIỆN VÀ CHỒNG CHÉO

Môi trường không khí ở các đô thị và khu công nghiệp nước ta trong những năm qua đang tiếp tục diễn biến xấu và gia tăng mức độ trầm trọng. Theo Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia giai đoạn 2011 - 2015, chất lượng không khí tại các đô thị lớn, khu vực xung quanh các khu sản xuất công nghiệp và làng nghề chưa có nhiều cải thiện so với giai đoạn 2006 – 2010. Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia 2016 về môi trường đô thị cũng nhận định hầu hết các đô thị lớn của nước ta đang phải đối mặt với tình trạng ONKK ngày càng gia tăng, đặc biệt là bụi và tiếng ồn. Thực trạng này có nhiều nguyên nhân từ quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa mặc dù chúng ta cũng đã có nhiều nỗ lực giải quyết. Cụ thể, Luật BVMT 2014 đã dành một Mục 4 (thuộc Chương VI) về BVMT không khí với 3 điều (Điều 62-64) và Mục 5 (thuộc Chương IX) về quản lý và kiểm soát bụi, khí thải, tiếng ồn, độ rung, ánh sáng và bức xạ với 02 điều (Điều 102-103). Ở mức độ dưới luật, Nghị định 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu cũng đề cập tới quy định đăng ký nguồn thải, cấp phép xả thải và quan trắc khí thải liên tục đối với các nguồn phát thải khí công nghiệp lớn, chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực sản xuất nhiệt điện, hóa chất, xi măng, thép… Bên cạnh đó, Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý chất lượng không khí đến năm 2020, tầm nhìn 2025 tại Quyết định 985a/QĐ-TTg ngày 01/6/2016. Nước ta cũng đã chính thức áp dụng tiêu chuẩn khí thải Euro 4 từ 01/01/2017 đối với phương tiện giao thông… Nhìn chung, so với năm 2005 thì chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường (BVMT) không khí đã có tiến bộ hơn một bước. Tuy nhiên, hệ thống thể chế về bảo vệ môi trường không khí hiện nay vẫn còn một số điểm bất cập. Thứ nhất, chính sách pháp luật còn chung chung, tản mạn, chưa có một văn bản toàn diện và tổng thể về BVMT không khí. Các quy định pháp luật về BVMT không khí vẫn còn khá chung chung, chủ yếu mới đưa ra yêu cầu các tổ chức, cá nhân, phương tiện giao thông phải xử lý khí thải đạt yêu cầu trước khi thải ra môi trường. Các quy định về chất lượng nhiên liệu, kiểm soát khí thải từ phương tiện giao thông, kiểm soát nguồn thải cố định… nằm rải rác ở nhiều văn bản khác nhau. Chúng ta còn thiếu một số văn bản đề cập đến quản lý chất lượng không khí trong nhà (indoor air quality management), tiếng ồn, mùi, độ rung, quản lý phát thải khí nhà kính (KNK)... Đặc biệt, chúng ta chưa có một văn bản dưới luật chuyên biệt, chi tiết về BVMT không khí nên vấn đề không được tiếp cận một cách tổng thể và toàn diện. Có thể nói BVMT môi trường không khí dường như còn bị xem nhẹ so với BVMT môi trường nước và quản lý chất thải rắn.

Ảnh minh họa: PanNature * Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Chính sách Tài nguyên và Môi trường Trung tâm Con người và Thiên nhiên | Số 24, Quý IV/2016 3

Thứ hai, còn có những chồng chéo và khoảng trống trong phân công trách nhiệm giữa các bộ, ngành ở cấp Trung ương. Cụ thể, Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm chung về BVMT không khí nhưng chỉ kiểm soát các nguồn thải công nghiệp lớn. Đối với nguồn thải cố định khác, Bộ Công Thương được giao quản lý công tác BVMT, song cũng chỉ kiểm soát đối với các doanh nghiệp nhà nước trực thuộc, trong đó có các cơ sở phát sinh khí thải trọng điểm mà Bộ TNMT kiểm soát, nhưng lại không quản lý các cơ sở sản xuất ngoài quốc doanh. Đối với nguồn thải di động, Bộ GTVT được giao quản lý và kiểm soát khí thải từ các phương tiện giao thông. Bộ Xây dựng quản lý hoạt động xây dựng kết cấu hạ tầng BVMT ở các đô thị, song trách nhiệm về ONKK từ các công trình xây dựng cũng chưa thật rõ ràng. Trong khi đó, Bộ KHCN được giao quản lý việc ban hành các tiêu chuẩn về nhiên liệu, thẩm định công nghệ. Sự phân tán trách nhiệm như vậy làm cho công tác BVMT không khí khó đạt kết quả cao nếu không có sự điều phối, hợp tác chặt chẽ giữa các bộ/ngành, vốn là điểm yếu trong hệ thống của chúng ta. Đó là còn chưa nói đến việc các bộ, ngành thường đặt trọng tâm vào các nhiệm vụ, mục tiêu tăng trưởng kinh tế, vốn là chức năng chính của họ, hơn là các mục tiêu BVMT, bao gồm cả BVMT không khí.

Thứ ba, bộ máy tổ chức ở cấp địa phương còn yếu kém, nguồn lực đầu tư cho quản lý môi trường không khí còn rất hạn chế, tính chủ động chưa cao. Ở các địa phương, các Sở Tài nguyên và Môi trường không có phòng/đơn vị chuyên trách về quản lý môi trường không khí. Nhân lực cho công tác quản lý môi trường không khí còn thiếu và trình độ chuyên môn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế. Hệ thống các trạm quan trắc và phân tích môi trường không khí trên toàn quốc rất yếu kém, không được quan tâm đầu tư. Đến hết năm 2015, cả nước chỉ có 25 trạm quan trắc không khí tự động cố định hoạt động ở 9 tỉnh/thành phố, trong đó TP Hà Nội hiện chỉ có 02 trạm, TP Hồ Chí Minh 09 trạm đáp ứng yêu cầu. Chúng ta thiếu hẳn một hệ thống cơ sở dữ liệu về chất lượng không khí, về các nguồn thải được cập nhật, bổ sung theo định kỳ, vì vậy thiếu những phân tích, đánh giá đáng tin cậy về chất lượng môi trường không khí đô thị. Bên cạnh đó, thực trạng phát triển của hai đô thị lớn ở nước ta cho thấy rất nhiều bất cập, hạn chế trong lập và thực hiện quy hoạch đô thị, xây dựng các nhà cao tầng, phát triển giao thông đô thị… vốn là những yếu tố có tính nền tảng đến chất lượng môi trường không khí. Nhìn chung, năng lực yếu kém trong khi tính chủ động, trách nhiệm của các địa phương/ đô thị còn chưa cao thì môi trường không khí đô thị rất khó có thể được cải thiện.

THÁCH THỨC CẦN ĐƯỢC ƯU TIÊN GIẢI QUYẾT

Qua quá trình phát triển và đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường không khí, nhiều nước đã ban hành luật về quản lý môi trường không khí từ rất sớm, vào những năm 60 của thế kỷ XX. Đơn cử, Hoa Kỳ ban hành Luật Không khí sạch (Clean Air Act) từ năm 1963, sửa đổi vào năm 1990. Nhật Bản ban hành Luật Kiểm soát phát thải khói và muội năm 1962, Luật kiểm soát ONKK năm 1968; ngoài ra, còn có Luật kiểm soát NOx/PM phát thải từ nguồn giao thông, cùng một số luật liên quan khác. Ở Đức, quản lý chất lượng không khí chủ yếu được thực hiện theo quy định của Luật phòng ngừa tác hại đến môi trường do ONKK, tiếng ồn, độ rung và các hiện tượng tương tự năm 1970, sửa đổi năm 1990 và 2002. Singapore ban hành Luật không khí năm 1971, sau đó là Luật kiểm soát ô nhiễm môi trường năm 1999 trong đó có yêu cầu kiểm soát nghiêm ngặt về khói thải. Sau đó chừng vài thập niên, nhiều nước trong khu vực quanh chúng ta cũng đã ban hành các luật về quản lý chất lượng không khí. Ấn Độ có Luật không khí năm 1981 cùng với Luật Môi trường năm 1986. Trung Quốc ban hành Luật bảo vệ môi trường và Luật về Phòng chống và kiểm soát ô nhiễm khí quyển năm 2000. Phillipines ban hành Luật không khí sạch năm 1999, Thông tư về Kế hoạch hành động quốc gia quản lý Ảnh minh họa: PanNature 4 Bản tin Chính sách | Tài nguyên • Môi trường • Phát triển bền vững chất lượng không khí và Chương trình kiểm soát ONKK, Luật RA 9367 về nhiên liệu sinh học... Nước ta đã thực hiện công nghiệp hóa được hơn 30 năm, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ trong suốt thời gian qua. Vấn đề ô nhiễm bụi ở các đô thị lớn không phải bây giờ mới xuất hiện mà đã tồn tại từ suốt 10-15 năm nay (số liệu quan trắc ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh cho thấy nồng độ bụi PM đã vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần liên tục từ năm 2004 đến nay) chưa được giải quyết, thậm chí có xu hướng trầm trọng hơn. Năm 2012, Đại học Yale và Columbia (Hoa Kỳ) đã công bố tại Diễn đàn kinh tế thế giới Davos (Thụy Sỹ) rằng Việt Nam thuộc các nước có mức độ ONKK nặng nề. Gần đây, trạm quan trắc không khí tự động của Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Hà Nội thường đưa tin về tình trạng ONKK vượt tiêu chuẩn nhiều lần. Điều này thể hiện công tác ứng phó với ONKK chưa đạt kết quả như yêu cầu. Với mục tiêu đến 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp, trong thời gian tới quá trình công nghiệp hóa sẽ được thúc đẩy mạnh mẽ hơn, dự kiến nước ta sẽ có khoảng 280 khu công nghiệp, 1.750 cụm công nghiệp với diện tích khoảng 160.000ha. Trong phát triển năng lượng, nhiệt điện than vẫn đóng vai trò rất quan trọng, chiếm tới 42,7% công suất lắp đặt vào năm 2020. Bên cạnh đó, quá trình đô thị hóa tiếp tục diễn ra nhanh hơn trước, dự kiến đến 2020 sẽ có khoảng 45% dân số, tương đương 44 triệu người sẽ sống ở các đô thị, số lượng phương tiện giao thông sẽ tăng lên. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế tiếp tục diễn ra sâu rộng, nhiều nước đang lợi dụng để chuyển các loại hình công nghệ cũ, lạc hậu vào nước ta. Tất cả những vấn đề này đang đặt ra những thách thức rất lớn đối với nước ta trong việc BVMT không khí. Hiện nay, Hà Nội và TP HCM đã được quốc tế đánh giá như là những đô thị ONKK nặng nề trong khu vực. Nếu không triển khai thực hiện ngay những giải pháp phù hợp thì chúng ta sẽ phải đối mặt với thực trạng báo động đỏ về ONKK như ở một số thành phố lớn của Trung Quốc.

CẦN CÓ LUẬT CHUYÊN BIỆT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ

Theo kinh nghiệm chung của thế giới, muốn quản lý và cải thiện chất lượng không khí thì phải có cách tiếp cận một cách toàn diện, tổng thể với nhiều giải pháp đồng bộ: quy hoạch sử dụng đất phù hợp; quản lý nhu cầu đi lại; quản lý chất lượng nhiên liệu; quản lý, kiểm soát các nguồn thải di động, nguồn thải cố định; quan trắc, báo cáo, thông tin chất lượng không khí; áp dụng các công cụ kinh tế (phí, thuế, hạn ngạch xả thải có thể chuyển nhượng…); ứng phó các sự cố về môi trường không khí; quản lý chất lượng không khí trong nhà (indoor air quality management); quản lý chất lượng không khí theo khu vực đặc thù, theo địa hình và khí hậu (airshed management)…. Bên cạnh đó, trong bối cảnh biến đổi khí hậu gia tăng, quản lý môi trường không khí cũng cần phải gắn với bảo vệ tầng ozone, ngăn ngừa mưa axit, khuyến khích sử dụng năng lượng, nhiên liệu sạch, tái tạo… Để thực hiện các mục tiêu này, chúng ta cần phải xây dựng một văn bản luật chuyên biệt về BVMT không khí (hay Luật Không khí sạch) như nhiều nước trên thế giới. Luật này sẽ quy định rõ trách nhiệm và sự phối hợp của các bộ ngành, các doanh nghiệp, người dân, các bên liên quan, đặc biệt là trách nhiệm của chính quyền địa phương/đô thị trong việc thực thi các biện pháp bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường không khí. Việt Nam đã cam kết thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) đến năm 2030 của Liên hợp quốc, theo đó phải bảo đảm cho người dân được sống trong môi trường trong lành, phải xây dựng các đô thị bền vững và đáng sống. Chúng ta cũng đã cam kết thực hiện Thỏa thuận Pari về cắt giảm phát thải khí nhà kính và tăng cường năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu. Việc xây dựng và thực thi hiệu quả Luật Không khí sạch sẽ góp phần tích cực cho việc thực hiện các cam kết này. Từ năm 2013 -2015, Viện Chiến lược Chính sách Tài nguyên và Môi trường đã được giao nhiệm vụ điều tra, đánh giá, xây dựng khung chính sách và pháp luật về không khí sạch ở Việt Nam. Trong quá trình thực hiện, Dự án đã tiến hành nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới; điều tra, khảo sát tại một số địa phương, nhất là tại các đô thị lớn về thực trạng công tác quản lý chất lượng không khí ở nước ta hiện nay; từ đó nhận diện các hạn chế, bất cập để đề xuất khung chính sách quản lý chất lượng không khí, trong đó bao gồm đề xuất xây dựng Luật Không khí sạch ở Việt Nam. Đánh giá cho thấy, vướng mắc lớn nhất hiện nay là tư duy về hệ thống pháp luật môi trường và nhận thức về sự cần thiết của các luật chuyên biệt dưới Luật BVMT. Ở nhiều nước trên thế giới, hệ thống chính sách pháp luật về BVMT được tiếp cận theo hướng có luật khung/cơ bản về môi trường và bên cạnh đó là các luật chuyên biệt đối với các thành phần môi trường như nước, đất, không khí, đa dạng sinh học. Ở nước ta hiện nay, về BVMT chúng ta có Luật BVMT, Luật Đa dạng sinh học và Luật Thuế BVMT, song chưa có các luật chuyên về môi trường nước, đất, không khí, quản lý chất thải. Trong thời gian tới, hệ thống pháp luật về BVMT cần sắp xếp, kiện toàn lại thông qua việc xây dựng Bộ Luật môi trường gồm luật khung và các luật thành phần. Bên cạnh đó, việc thực thi hiệu quả sau khi Luật được ban hành cũng vốn là điểm rất yếu của chúng ta. Một trong những nguyên nhân chính của việc BVMT nói chung, môi trường không khí nói riêng, không được thực thi hiệu quả thời gian qua là do công tác quản lý nhà nước BVMT ở nước ta hiện nay đang bị phân tán, trong khi sự phối hợp không hiệu quả. Để khắc phục điều này, chúng ta nên nhìn xu hướng chung của các nước trên thế giới như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc… Theo đó, Bộ Môi trường được trao quyền đủ mạnh để phản biện, ngăn chặn các hoạt động phát triển gây hại đến môi trường, tránh việc phân tán trách nhiệm về BVMT cho các bộ/ngành kinh tế. Ngoài ra, cần tăng cường năng lực và phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò chủ động, tích cực của các tỉnh/thành phố trong việc thực thi pháp luật về BVMT. Các thành phố phải chủ động xây dựng các kế hoạch quản lý chất lượng không khí một cách toàn diện và tổng thể với nhiều giải pháp đồng bộ. Có như vậy, công tác BVMT nói chung và BVMT không khí nói riêng mới đi vào thực chất và đạt được kết quả kỳ vọng

TS. Nguyễn Trung Thắng

Bản tin Chính sách-Tài nguyên-Môi trường-Phát triển bền vững

Trung tâm Con người và Thiên nhiên, số 24/2016

Công ty Khoa học Công nghệ và Bảo vệ môi trường với các chuyên gia kinh nghiệm trong hoạt động quan trắc môi trường và đang cung cấp trạm quan trắc môi trường không khí tự động thế hệ mới sẽ được tư vấn hỗ trợ việc thiết kế và lắp đặt mạng lưới quan trắc một cách khoa học và kinh tế, giải quyết những yếu kém mà bài báo đã nêu lên.

Địa chỉ: 2/8 Tây Sơn, Đống Đa, Hà Nội

Điện thoại: 0915.668.418 hoặc 0919.668.415

 

@ Bản quyền thuộc về Công ty TNHH Khoa học Công nghệ và Bảo vệ môi trường

Thiết kế bởi công ty Enuy Việt Nam

Hỗ trợ trực tuyến